Sức đề kháng tự nhiên là khả năng mà cơ thể sinh ra đã có, nhằm chống lại sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai gây bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng. Các yếu tố ngoại lai có thể là các vi sinh vật như vurus, vi khuẩn, nấm, kí sinh trùng hoặc các phân tử chất không có nguồn gốc vi sinh vật như bụi hoá chất. Bằng các thành phần của hệ thống đề kháng tự nhiên, cơ thể ngăn chặn sự xâm nhập của các yếu tố gây bệnh và nếu chúng đã xâm nhập thì tìm các loại trừ, tiêu diệt.

Một ví dụ về sức đề kháng tự nhiên: Những đứa trẻ ở cùng lứa tuổi, có cùng điều kiện chăm sóc, trong cùng một môi trường nhưng trong cùng điều kiện tác động của ngoại cảnh như đợt dịch bệnh, đợt thay đổi thời tiết nhưng có trẻ thì bị mắc bệnh còn trẻ khác thì không bị. Đây chính là do tình trạng sức đề kháng tự nhiên của chúng khác nhau dẫn đến khả năng chống trả lại sự tấn công của các yếu tố gây bệnh khác nhau.

Sức đề kháng tự nhiên tốt giúp cơ thể phòng chống bệnh tôt và ngược lại thì cơ thể dễ bị nhiễm bệnh, đặc biệt là các bệnh nhiễm trùng.

Sức đề kháng tự nhiên chống lại các yếu tố ngoại lai, đặc biệt là các vi sinh vật gây nhiễm trùng, xâm nhập vào cơ thể và gây bệnh như thế nào?

Sức đề kháng tự nhiên có các cơ chế đáp ứng đảm bảo kịp thời, hiệu quả, toàn diện, duy trì và tăng cường chống lại sự xâm nhập của các tác nhân vi sinh vật ngay những lần đầu tiên và cả khi xâm nhập lại.

Một cách tổng quát, sức đề kháng tự nhiên của cơ thể ngăn chặn sự xâm nhập và tiêu diệt, loại trừ các vi sinh vật nếu chúng đã xâm nhập vào cơ thể bằng hàng loạt các lớp rào bảo vệ và theo từng giai đoạn xâm nhập của vi sinh vật một cách thích hợp. Sự đáp ứng này có sự tham gia của nhiều cơ quan và các tế bào chuyên biệt trong cơ thể và theo nhiều cơ chế khác nhau tạo ra sức đề kháng tự nhiên.

Đầu tiên là cơ thể dựng lên các hàng rào tại da, niêm mạc hô hấp, niêm mạc tiêu hoá, là ba cửa ngõ mà vi sinh vật bên ngoài cơ thể thường xâm nhập vào. Phủ trên bề mặt da, niêm mạc là lớp biểu mô, là hàng rào sinh lí ngăn chặn và đẩy lùi mọi sự xâm nhập của vi sinh vật. Ngay trong lớp biểu mô này có các tế bào tiết ra các chất kháng sinh để tiêu diệt vi sinh vật. Nếu vi sinh vật qua được lớp biểu mô, cơ thể sẽ điều động các tế bào có chức năng đặc biệt đến nơi có xâm nhập. Các tế bào này bao gồm các thực bào và tế bào giết tự nhiên, có khả năng nuốt các vi sinh vật và tiết ra các chất tiêu diệt chúng. Khi các vi sinh vật đã xâm nhập được vào các cơ quan và vào máu thì cơ thể sẽ huy động các tế bào có khả năng đề kháng sẵn có, tăng sinh số lượng các tế bào này để đối phó. Các tế bào này gọi là lympho bào, có khả năng đề kháng đặc hiệu với từng loại vi sinh vật, tiến hành nhận diện, bao vây, gắn kết với các vi sinh vật để tiêu diệt chúng. Các tế bào lympho cũng sản xuất ra các chất đề kháng (kháng thể) để tiêu diệt và loại trừ các vi sinh vật. Tất cả các quá trình thực bào và tiêu diệt vi sinh vật còn được hỗ trợ bởi các phân tử protein trong huyết tương, được gọi là bổ thể.

Theo giai đoạn xâm nhập của vi sinh vật, sức đề kháng tự nhiên ngăn chặn và tiêu diệt, loại trừ các vi sinh vật bằng 2 cơ chế, đó là đề kháng bẩm sinh và đề kháng thích ứng:

  • Đề kháng bẩm sinh là những cơ chế bảo vệ cơ thể ngay lập tức, kịp thời (ngay khi mới sinh ra và ngay khi có vi sinh vật xâm nhập). Đây là dạng đề kháng luôn luôn tồn tại ở các cá thể khoẻ mạnh, có tác dụng thường trực ngăn chặn sự xâm nhập của các vi sinh vật vào cơ thể và nhanh chóng loại bỏ các vi sinh vật nếu như chúng đã xâm nhập vào cơ thể rồi. Đề kháng bẩm sinh luôn có cùng một cơ chế và cùng một mức độ so với đáp ứng tạo ra trong lần xâm nhập đầu tiên khi có sự xâm nhập lại các lần sau.
  • Đề kháng thích ứng là những cơ chế xuất hiện muộn hơn và tham gia vào bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng muộn hơn nhưng hiệu quả hơn. Đây là loại đề kháng của cơ thể được kích thích bởi các vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể và như vậy kiểu đáp ứng này là để thích ứng với sự có mặt của các vi sinh vật khi chúng đã xâm nhập vào cơ thể. Đề kháng thích ứng có tính chất đáp ứng đặc hiệu với từng loại vi sinh vật hoặc các phân tử của chúng và có khả năng ghi nhớ các đáp ứng này khi các vi sinh vật đó xâm nhập trở lại cơ thể lần sau để tạo ra một đáp ứng nhanh, mạnh hơn nhiều so với lần xâm nhập đầu tiên.
  • Trên thực tế cả hai cơ chế này có sự phối hợp chặt chẽ với nhau và cộng hưởng tác dụng để tạo ra sức đề kháng tự nhiên của cơ thể. Điều này thể hiện ở hai điểm: Thứ nhất, đề kháng bẩm sinh có khả năng kích thích và ảnh hưởng đến bản chất của đề kháng thích ứng. Thứ hai, đề kháng thích ứng có sử dụng nhiều cơ chế hiệu quả của đề kháng bẩm sinh để loại trừ vi sinh vật và có khả năng tăng cường khả năng kháng khuẩn của chính đề kháng thích ứng.

Cùng tìm hiểu sâu hơn về vai trò, thành phần tham gia, đặc điểm của 2 cơ chế đề kháng bẩm sinh và đề kháng thích ứng.

Đề kháng bẩm sinh:

Phòng tuyến đầu tiên của đề kháng bẩm sinh bao gồm các rào cản là các biểu mô (như da, niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc đường tiêu hoá), các tế bào chuyên biệt và các chất kháng sinh tự nhiên có mặt ở biểu mô.

Tất cả các thành phần này có chức năng chung là ngăn chặn sự xâm nhập của vi sinh vật vào cơ thể. Nếu các vi sinh vật đã xuyên qua được lớp biểu mô này và xâm nhập vào các mô hoặc vào máu thì chúng sẽ bị tấn công bởi các tế bào làm nhiệm vụ thực bào, các tế bào lympho chuyên trách có tên gọi là tế bào giết tự nhiên (natural killer – gọi tắt là tế bào NK), và các protein huyết tương bao gồm các protein của hệ thống bổ thể, là các phân tử có tác dụng làm tăng cường khả năng tiêu diệt vi sinh vật.

Tất cả các cơ chế kể trên nhận diện một cách đặc hiệu và phản ứng chống lại các vi sinh vật nhưng không phản ứng chống lại các chất ngoại lai không có nguồn gốc từ các vi sinh vật. Các cơ chế khác nhau của đề kháng bẩm sinh có thể đặc hiệu với các phân tử được tạo ra bởi các loại vi sinh vật khác nhau.

Ngoài chức năng cung cấp khả năng đề kháng sớm, các đáp ứng này còn có tác dụng tăng cường cho các đáp ứng đề kháng thích ứng chống lại các tác nhân nhiễm trùng.

Đề kháng thích ứng

Mặc dù đề kháng bẩm sinh có thể chống lại một cách hiệu quả nhiều loại nhiễm trùng, song các vi sinh vật gây bệnh cho người lại tiến hoá để chống lại khả năng đề kháng tự nhiên của người. Vì thế đề kháng lại các loại tác nhân gây bệnh này chính là chức năng của cơ chế đề kháng thích ứng, và cũng vì vậy mà những cá thể có khuyết tật trong các thành phần của hệ thống đáp ứng đề kháng thích ứng dễ bị nhiễm trùng hơn.

Hệ thống đáp ứng thích ứng bao gồm các tế bào lympho (lympho B và lympho T) và các sản phẩm do chúng sinh ra như các kháng thể. Trong khi các cơ chế của đề kháng bẩm sinh nhận diện các cấu trúc giống nhau giữa các vi sinh vật khác nhau để tấn công vào đó thì các tế bào lympho B và lympho T thuộc hệ thống đề kháng thích ứng lại có các thụ thể có khả năng nhận diện một cách đặc hiệu các chất khác nhau do các vi sinh vật tạo ra cũng như những phân tử không có nguồn gốc từ vi sinh vật, được gọi là các kháng nguyên (antigen).

Các đáp ứng đề kháng thích ứng thường chỉ được châm ngòi khi các vi sinh vật hoặc các kháng nguyên của chúng xâm nhập qua hàng rào biểu mô và được chuyển tới các cơ quan lympho, tại đó chúng được các tế bào lympho nhận diện.

Các đáp ứng đề kháng thích ứng tạo ra các cơ chế chuyên trách để chống lại các loại nhiễm trùng khác nhau. Ví dụ các kháng thể do tế bào lympho B sản xuất ra có chức năng loại bỏ các vi sinh vật có trong các dịch ngoại bào, các tế bào lympho T hoạt hoá thì loại bỏ các vi sinh vật sống bên trong các tế bào của cơ thể.

Đặc điểm của đề kháng thích ứng

Các đặc điểm quan trọng nhất của đề kháng thích ứng là: tính đặc hiệu, đa dạng, khả năng ghi nhớ, và tính chuyên biệt.

Tính đặc hiệu là khả năng nhận diện và đáp ứng đặc hiệu riêng với từng loại trong số rất nhiều loại vi sinh vật hay kháng nguyên.

Tính đa dạng là khả năng mà đề kháng thích ứng có thể đáp ứng với rất nhiều loại vi sinh vật hay kháng nguyên khác nhau.

Khả năng ghi nhớ đề kháng thể hiện qua việc lần xâm nhập tiếp sau của một loại vi sinh vật hay kháng nguyên sẽ tạo ra một đáp ứng mạnh hơn so với đáp ứng tạo ra ở lần tiếp xúc trước. Đáp ứng lần sau nhanh, mạnh hơn và thay đổi về chất so với đáp ứng lần trước.

Tính chuyên biệt là khả năng tạo ra đáp ứng tối ưu chống lại nhiều loại vi sinh vật khác nhau.

Cơ chế hoạt động của đề kháng thích ứng

Đề kháng thích ứng hoạt động dựa vào vai trò của các thành phần lympho B, lympho T và các chất có tính đề kháng (kháng thể) do lympho B tiết ra. Tế bào lympho B đóng vai trò chống lại các vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể, tồn tại bên ngoài tế bào cơ thể tức là các trường hợp các vi sinh vật nằm ở trong máu và trong các loại dịch khác của cơ thể. Tế bào lympho T đóng vai trò chống lại các vi sinh vật xâm nhập vào trong tế bào.

Các kháng thể được chế tiết vào hệ thống tuần hoàn và vào các dịch tiết của các màng nhầy. Các kháng thể có vai trò trung hoà và loại bỏ các vi sinh vật cùng các độc tố do chúng tạo ra xuất hiện trong máu và trong các xoang của các cơ quan có màng nhầy che phủ như đường tiêu hoá và đường hô hấp. Một trong số những chức năng quan trọng nhất của kháng thể đó là ngăn chặn các vi sinh vật xuất hiện ở các màng nhầy cũng như khi chúng còn đang ở trong máu, không cho chúng xâm nhập vào các tế bào và mô liên kết. Bằng cách đó các kháng thể có thể ngăn ngừa được nhiễm trùng ngay ở giai đoạn rất sớm không cho chúng xuất hiện. Tuy nhiên các kháng thể lại không có khả năng tiếp cận được các vi sinh vật sống và nhân lên bên trong các tế bào của cơ thể bị nhiễm chúng.

Dạng đáp ứng đề kháng chống lại các vi sinh vật nội bào ấy được thực hiện bởi các tế bào lympho T. Một số tế bào lympho T có tác dụng hoạt hoá các tế bào làm nhiệm vụ thực bào tiêu huỷ các vi sinh vật mà chúng đã nuốt vào rồi chứa trong các bọng thực bào. Các tế bào lympho khác thì lại có vai trò giết chết bất kỳ tế bào nào của cơ thể có chứa các vi sinh vật trong bào tương của chúng.

Các kháng thể do các tế bào lympho B tạo ra nhằm mục đích nhận diện một cách đặc hiệu các kháng nguyên của vi sinh vật ngoại bào còn các tế bào lympho T thì nhận diện các kháng nguyên được tạo ra bởi các vi sinh vật nội bào. Một điểm khác biệt quan trọng nữa giữa các tế bào lympho T và B đó là hầu hết các tế bào T chỉ nhận diện các kháng nguyên có bản chất là protein của vi sinh vật trong khi đó các kháng thể có khả năng nhận diện nhiều loại phân tử khác nhau của vi sinh vật bao gồm các protein, carbohydrate và lipid.

Các đáp ứng đề kháng thích ứng thường sử dụng các tế bào và phân tử của hệ thống đề kháng bẩm sinh để loại bỏ các vi sinh vật, đồng thời đề kháng thích ứng cũng làm tăng cường một cách mạnh m

ẽ các cơ chế kháng vi sinh vật của đề kháng bẩm sinh. Ví dụ như các kháng thể (một thành phần của đề kháng thích ứng) bám vào các vi sinh vật và các vi sinh vật đã bị các kháng thể bao phủ như vậy sẽ dễ dàng bám vào và hoạt hoá các tế bào làm nhiệm vụ thực bào (như bạch cầu trung tính, đại thực bào, một thành phần của đề kháng bẩm sinh) có vai trò nuốt và sau đó phá huỷ các vi sinh vật.

Con người luôn sống trong một môi trường có vô số các loài vi sinh vật như vi khuẩn, virus, kí sinh trùng, nấm…Trong số đó có rất nhiều loại có thể gây bệnh cho con người khi chúng xâm nhập vào trong cơ thể. Đó là các bệnh nhiễm trùng và là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tật và tử vong trên khắp thế giới. Đây là loại bệnh có thể gây ra cho tất cả các cơ quan tổ chức trong cơ thể con người.

Trong quá trình tiến hoá chung của tự nhiên, con người đã có được khả năng tự phòng vệ chống lại sự xâm nhập của các tác nhân ngoại lai gây bệnh như các vi sinh vật. Đó chính là sức đề kháng tự nhiên.

Với các hiểu biết về sức đề kháng tự nhiên, chúng ta có thể thấy được vai trò của nó cực kì quan trọng trong việc bảo đảm sức khoẻ con người trước sự tấn công của các vi sinh vật.

Chức năng sinh lí của hệ thống đề kháng tự nhiên là ngăn ngừa nhiễm trùng mới và loại bỏ các nhiễm trùng đã xảy ra. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy tầm quan trọng của sức đề kháng tự nhiên đối với sức khoẻ con người qua các trường hợp bị suy giảm sức đề kháng, đó là những người này rất dễ mắc nhiều bệnh nhiễm trùng nguy hiểm đến tính mạng.

Sức đề kháng tự nhiên thể hiện vai trò to lớn trong ngăn ngừa nhiễm trùng. Điều này có được là do cơ thể luôn có sức đề kháng tự nhiên bẩm sinh từ khi mới sinh ra. Sức đề kháng này tạo ra cho cơ thể một khả năng thường trực, sẵn sàng ngăn ngừa sự xâm nhập của các vi sinh vật ngay tư khi mới sinh ra và ngay lập tức mỗi khi có sự xâm nhập. Đây là vai trò của các thành phần của sức đề kháng bẩm sinh như chúng ta đã biết, bao gồm các hàng rào sinh lí tự nhiên (biểu mô trên da, niêm mạc) và các tế bào thực bào, tế bào giết tự nhiên, các kháng sinh tự nhiên. Các cá thể có sức đề kháng tự nhiên tốt luôn tự ngăn ngừa được các bệnh nhiễm trùng. Ở trẻ em và trẻ sơ sinh, khi mà cơ chế đề kháng tự nhiên chưa hoàn thiện, sức đề kháng yếu nên rất dễ mắc phải những bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, đường tiêu hoá, là những cơ quan có sự tiếp xúc thường xuyên, trực tiếp với môi trường bên ngoài.

Sức đề kháng tự nhiên cũng thể hiện vai trò rất quan trọng trong việc loại trừ các nhiễm trùng đã xảy ra. Khi vi sinh vật đã xâm nhập được vào trong cơ thể, các đáp ứng đề kháng tự nhiên theo cơ chế đề kháng thích ứng sẽ tạo ra khả năng tiêu diệt loại trừ các vi sinh vật gây bệnh. Đây là vai trò của các thành phần tạo ra sức đề thích ứng, bao gồm các tế bào lympho, kháng thể, có sự tham gia của bổ thể. Đây là các thành phần tạo ra sự đáp ứng đặc hiệu với từng loại vi sinh vật hoặc từng chất do chúng sinh ra. Ngoài ra các thành phần này còn có tính đa dạng rất cao, có thể sẵn sàng nhận diện tất cả các loài vi sinh vật và từ đó tạo ra các đáp ứng thích hợp. Đây chính là lí do mà sức đề kháng tự nhiên có thể loại trừ nhiễm trùng do các tác nhân đa dạng từ vi khuẩn, virus, kí sinh trùng, nấm…

Đặc biệt hơn nữa là vai trò của sức đề kháng tự nhiên trong việc đối phó với sự xâm nhập những lần sau của một loại vi sinh vật. Đây chính là khả năng ghi nhớ của hệ thống đáp ứng này. Các tế bào lympho đã tham gia vào một đáp ứng chống lại một loại vi sinh vật nào đó sẽ biệt hoá trở thành các tế bào ghi nhớ đề kháng. Mỗi khi có sự xâm nhập trở lại của cùng loại vi sinh vật lần trước, các tế bào này sẽ tạo ra những đáp ứng ở mức độ cao hơn lần trước đó nhiều lần và thêm nữa là với những cơ chế khác để chống lại sự biến đổi của các tác nhân gây bệnh. Đây chính là khả năng giúp cơ thể không bị tái mắc nhiễm trùng với loại vi sinh vật này và giảm thời gian bị nhiễm trùng. Những cá thể có sức đề kháng tự nhiên mạnh sẽ ít bị tái mắc các bệnh nhiễm trùng và nếu mắc thì sẽ vượt qua nhanh chóng.

Như đã nói trên, các bệnh nhiễm trùng có thể xảy ra với tất cả các cơ quan, bộ phận của cơ thể. Trong đó các bộ phận thuộc đường hô hấp thường có nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm trùng do đây là cơ quan tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài. Không khí mang theo rất nhiều loại vi sinh vật đi vào đường hô hấp từ các bộ phận bên trên như mũi họng, thanh quản đến các bộ phận bên dưới như thanh quản, khí quản, phế quản và phổi. Các vi sinh vật có thể bị hàng rào bảo vệ đầu tiên như niêm mạc tóm bắt, đẩy ra khỏi đường hô hấp, nhưng cũng có thể xâm nhập vào các tổ chức mô bên dưới niêm mạc và gây ra các bệnh nhiễm trùng đặc biệt là đối với các cá thể có sức đề kháng tự nhiên yếu.

Các nhiễm trùng đường hô hấp thường do các loại virus, vi khuẩn xâm nhập hoặc có sự kết hợp của cả hai tác nhân gây ra. Trông đó các bệnh đường hô hấp xảy ra ở trẻ em thường do nguyên nhân từ virus (70-80% các trường hợp) hoặc có thể khởi đầu là do virus sau đó có bội nhiễm do vi khuẩn. Trong đó ho là một triệu chứng rất thường gặp khi mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp như cảm lạnh, viêm họng, viêm khí quản, viêm phế quản và viêm phổi.

Cũng như với các nhiễm trùng ở các cơ quan khác, mỗi khi có xâm nhập của virus, vi khuẩn vào đường hô hấp, các đáp ứng của hệ thống đề kháng tự nhiên lại được tạo ra để ngăn chặn và loại trừ các tác nhân gây bệnh.

Với các đối tượng như trẻ em do cấu tạo và chức năng của hệ hô hấp còn chưa hoàn chỉnh cũng như sức đề kháng yếu rất dễ mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp. Có thể nhìn thấy vai trò rất quan trọng của sức đề kháng tự nhiên trong việc phòng chống các bệnh hô hấp.

Với những hiểu biết ngày một nhiều hơn về vai trò của sức đề kháng tự nhiên và các nghiên cứu về các chế phẩm tăng sức đề kháng tự nhiên đã mở ra triển vọng về phương pháp mới để phòng ngừa và điều trị cũng như giảm nguy cơ tái mắc các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.